Vài điều cần biết về bảo lãnh và tái bảo lãnh

Theo Quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo hợp đồng (Uniform Rules for Contract Guarantees) của Phòng Thương mại Quốc tế, ấn bản số 325, người ta thường phân biệt ba loại bảo lãnh chính :

1- Bảo lãnh đấu thầu (Bid Bond hoặc Tender Bond):

Cam kết thanh toán cho người thụ hưởng (người chủ thầu) những chi phí tổn thất một khi người nhận thầu không thực hiện đúng những cam kết trong đơn dự thầu hoặc tự ý rút lui.

Số tiền bảo lãnh thường từ 1 – 5 % giá trị công trình.

2- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance Guarantee):

Đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thương mại đã ký kết giữa người mua và người bán, ví dụ việc giao hàng, hoàn thành công trình hay bảo lãnh hiệu quả công trình.

Số tiền bảo lãnh thường từ 5 -15 % giá trị hợp đồng.

3- Bảo lãnh bồi thường thanh toán (Repayment Guarantee):

Cam kết sẽ hoàn trả lại cho người thụ hưởng một số tiền nào đó đã chi trả hoặc ứng trước theo những điều kiện đã qui định trong hợp đồng thương mại.

Ví dụ:

Bảo lãnh hoàn trả tiền đặt cọc (Advanced Payment Guarantee) sẽ đảm bảo hoàn trả lại cho người mua số tiền ứng trước (đặt cọc) mà người đó đã trả cho người bán, trong trường hợp người bán không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.

Số tiền bảo lãnh tương đương số tiền đặt cọc từ 10 – 20 % giá trị hợp đồng.

Bảo lãnh và tái bảo lãnh

Thông thường, ngân hàng chịu trách nhiệm bảo lãnh sẽ phát hành một thư bảo lãnh trực tiếp cho người thụ hưởng.

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ngân hàng phát hành bảo lãnh lại yêu cầu một ngân hàng khác (ngân hàng đại lý của mình) thay mặt mình gián tiếp phát hành một thư bảo lãnh cho người thụ hưởng.

Điều này làm phát sinh quan hệ bảo lãnh đối ứng (counter guarantee) giữa hai ngân hàng.

Như vậy, ngân hàng phát hành sẽ có một bảo lãnh mang tính chất đối ứng mà ngân hàng đại lý sẽ sử dụng như là cơ sở để phát hành thư bảo lãnh thứ hai.

Baolanh

Sơ đồ bảo lãnh và tái bảo lãnh

Nghiệp vụ bảo lãnh không điều kiện (unconditional guarantee), nói chung độc lập đối với những nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng thương mại ký kết giữa người mua và người bán nhưng nó vẫn phải dựa vào hợp đồng.

Đôi khi, những điều khoản liên quan đến bảo lãnh lại nằm trong phần phụ lục của hợp đồng.

Nếu là một bảo lãnh có điều kiện, cần phải dự kiến những điều kiện để sử dụng nếu có, vấn đề giám định, được trọng tài phán xét và phân xử.

Mỗi bảo lãnh đều có thời hạn, thế nhưng ngày hết hạn hiệu lực của bảo lãnh không bắt buộc phải cố định.

Khi nghiệp vụ bảo lãnh bắt đầu, ngày phát hành bảo lãnh và ngày bảo lãnh có hiệu lực không bao giờ trùng nhau:

Ngày phát hành là thời điểm cho phép ngân hàng hạch toán và thu phí hoa hồng của khách hàng; ngày hiệu lực đánh dấu tính hiệu lực pháp lý đối với người thụ hưởng bảo lãnh.

Đặc biệt, trong bảo lãnh hoàn trả tiền đặt cọc (Advanced Payment Guarantee), ngày hiệu lực của bảo lãnh tùy thuộc vào việc ngân hàng phát hành có nhận được tiền đặt cọc hay chưa.

Việc bảo lãnh hết hạn dựa trên một thời hạn hoặc sự kiện theo đó các cam kết trong bảo lãnh đã được thực hiện một cách đúng đắn và hợp thức.

Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận rằng đối với bảo lãnh không điều kiện, giá trị hiệu lực có thể được gia hạn nhiều lần, việc từ chối gia hạn sẽ kéo theo đòi hỏi thanh toán trả tiền ngay và người yêu cầu bảo lãnh (tức là nhà xuất khẩu, phải chọn lựa hoặc là phải “gia hạn”, hoặc phải “trả tiền” cho người thụ hưởng.

Khi bảo lãnh hết hạn, việc giải trừ trách nhiệm có thể được tiến hành theo hai cách :

– Gửi trả lại thư bảo lãnh hoặc tuyên bố hủy bỏ chính thức thư bảo lãnh.

– Bảo lãnh sẽ tự động hết hiệu lực.

Vài lưu ý đối với nhà xuất khẩu

Nhà xuất khẩu (tức người yêu cầu bảo lãnh) nên tham khảo ý kiến tư vấn của ngân hàng và cùng ngân hàng xem xét đầy đủ, kỹ lưỡng và kịp thời các điều kiện phát hành bảo lãnh.

Mặt khác, nhà xuất khẩu nên có một văn bản (thư) yêu cầu bảo lãnh nghiêm túc làm cơ sở ủy nhiệm cho ngân hàng thực hiện bảo lãnh.

Đây là chứng cứ cần thiết xác định những cam kết, ràng buộc giữa nhà xuất khẩu và ngân hàng.

Ngoài ra, nhà xuất khẩu cũng cần lưu ý những rủi ro phát sinh trong nghiệp vụ bảo lãnh :

– Rủi ro tín dụng (Credit Risk):

Nghiệp vụ bảo lãnh là một hoạt động tín dụng do đó rủi ro tín dụng là đương nhiên.

Cần nhấn mạnh đến rủi ro này vì các nhà xuất khẩu thường không để ý hoặc xem nhẹ bởi lẽ tưởng chừng như bảo lãnh không kéo theo một sự xuất vốn nào, ít ra là trong giai đoạn trước mắt.

– Rủi ro hối đoái (Foreign Exchange Risk):

Nếu thư bảo lãnh có cam kết thanh toán, hoàn trả bằng ngoại tệ, nhà xuất khẩu phải gánh chịu rủi ro hối đoái khi tỷ giá thay đổi.

– Rủi ro về mặt chứng từ (Documentary Risks) :

Thư bảo lãnh không rõ ràng về đối tượng và thời gian cam kết hoặc có sự lầm lẫn trong thông tin liên lạc và dịch thuật, nhất là trong tái bảo lãnh.

Hiện nay, trong thương mại quốc tế, ngoài ba loại bảo lãnh chính trên đây còn có nhiều loại bảo lãnh khác được phát hành bởi các ngân hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng như bảo lãnh thuế khóa, quan thuế, bảo lãnh vận đơn v.v…

 LÊ HỮU HUY

Nguồn: TBKTSG

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s